DẤU ẤN VĨNH HƯNG TRÊN TUYẾN CAO TỐC QUẢNG NGÃI – HOÀI NHƠN
Hàng loạt dự án cao tốc Bắc – Nam giai đoạn 2 (2021–2025) đi qua khu vực Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có tuyến cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn, đã được thông xe kỹ thuật ngày 19/12. Sự kiện này đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của trục giao thông xuyên Việt, hình thành tuyến kết nối thông suốt từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
Việc đưa cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn vào khai thác đã tháo gỡ điểm nghẽn kéo dài nhiều năm trên Quốc lộ 1 – tuyến giao thông huyết mạch thường xuyên quá tải, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn và ùn tắc. Không chỉ đóng vai trò kết nối dọc trục Bắc – Nam, tuyến đường còn mở ra liên kết chiến lược giữa miền Trung và Tây Nguyên, rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa từ cảng Dung Quất và các khu công nghiệp ven biển miền Trung lên khu vực Tây Nguyên và ngược lại. Qua đó, cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn trở thành “đòn bẩy hạ tầng”, thúc đẩy logistics, thương mại, đầu tư và hình thành các chuỗi cung ứng liên vùng.
Tại dự án này, Vĩnh Hưng là đơn vị cung cấp toàn bộ hệ thống cáp dự ứng lực, gối cầu, khe co giãn và tường chống ồn trên toàn tuyến – những hạng mục kỹ thuật then chốt, có ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền kết cấu công trình, an toàn khai thác lâu dài và chất lượng môi trường sống dọc tuyến cao tốc.
Đáng chú ý, toàn bộ gối cầu, khe co giãn và tường chống ồn hấp thụ âm sử dụng trên tuyến cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn đều là sản phẩm được nội địa hóa hoàn toàn, do Vĩnh Hưng nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Nhà máy Vĩnh Hưng IP (Hưng Yên). Việc làm chủ công nghệ không chỉ giúp chủ động nguồn cung, rút ngắn tiến độ thi công, tối ưu chi phí, mà còn khẳng định năng lực của doanh nghiệp Việt trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của các dự án hạ tầng quy mô lớn.
Cụ thể, hệ thống gối cầu được thiết kế và sản xuất phù hợp hồ sơ kỹ thuật của dự án, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn TCVN 12068:2014 và AASHTO LRFD (Hoa Kỳ), với yêu cầu nghiêm ngặt về năng lực kỹ thuật, thiết bị và tay nghề. Sản phẩm đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tải trọng, chuyển vị và góc xoay, đồng thời có thiết kế tối ưu cho công tác lắp đặt, bảo trì trong suốt vòng đời khai thác. Quy trình kiểm soát chất lượng được thực hiện chặt chẽ từ khâu nguyên vật liệu đầu vào đến sản phẩm hoàn thiện, với bộ phận kiểm soát chất lượng chuyên trách.
Trước khi đưa vào thi công, toàn bộ gối cầu được thử nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu kỹ thuật như khả năng chịu tải (nén thẳng đứng, tải trọng ngang), góc xoay, hệ số ma sát… tại phòng thí nghiệm của Nhà máy Vĩnh Hưng IP. Sau đó, sản phẩm tiếp tục được thí nghiệm độc lập dưới sự chứng kiến của đại diện nhà thầu, tư vấn giám sát và chủ đầu tư trước khi bàn giao. Mỗi sản phẩm đều được gắn mã QR Code, cho phép truy xuất nguồn gốc và hồ sơ chất lượng.
Đối với khe co giãn, Vĩnh Hưng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn ISO 9001:2015, ISO 3834 và EN 1090-2 Execution 3. Sản phẩm được bảo vệ chống ăn mòn bằng nhiều giải pháp kỹ thuật như sơn Epoxy hai thành phần, sơn PU, mạ kẽm nhúng nóng theo ASTM A123, đặc biệt là công nghệ phun phủ kim loại nhôm – magiê, cho tuổi thọ lớp chống ăn mòn lên tới 100 năm, được kiểm chứng bằng thí nghiệm phun mù muối 6.000 giờ theo ASTM B117.
Hệ thống tường chống ồn của Vĩnh Hưng đáp ứng tiêu chuẩn KS F4770, với tỷ lệ hấp thụ âm trung bình trên 70% tại các dải tần 250 Hz, 500 Hz, 1.000 Hz và 2.000 Hz. Chỉ số giảm âm (Transmission Loss – TL) đạt trên 25 dB tại 500 Hz và trên 30 dB tại 1.000 Hz. Sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hấp thụ và cách âm như ISO 354, ASTM C423, EN 1793, ISO 10140, ISO 140, ASTM E90 và ISO 717-1.
Trong bối cảnh đầu tư công tăng tốc và yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao, việc nội địa hóa các sản phẩm và giải pháp kỹ thuật như gối cầu, khe co giãn, tường chống ồn được xem là yếu tố then chốt, góp phần nâng cao tính tự chủ của ngành giao thông Việt Nam.
Theo Bộ Xây dựng, đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành 3.803 km cao tốc, vượt xa mục tiêu 3.000 km đề ra. Với lộ trình mở rộng lên 5.000 km vào năm 2030, hệ thống cao tốc hiện đại không chỉ tạo nền tảng cho phát triển logistics quốc gia, mà còn mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong chuỗi kết nối khu vực.